|
Quá trình ban hành và triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn đã bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập.
Đó
là kết luận của đoàn giám sát thuộc Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội
đối với chương trình hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, cá nhân khi
tham gia vay vốn để sản xuất kinh doanh sau hơn 8 tháng triển khai thực
hiện.
Kết
quả giám sát cho thấy, chính sách hỗ trợ lãi suất khi vay vốn ngân hàng
được thông qua hồi đầu năm được đánh giá là đã phát huy tác dụng, tạo
niềm tin, có ý nghĩa về kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần đảm bảo
kinh tế trong nước ổn định và phát triển trong bối cảnh kinh tế thế
giới khủng hoảng, kinh tế trong nước suy giảm…
Rõ
nét nhất là nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn khó khăn và có dấu hiệu
phục hồi; GDP 9 tháng đầu năm ước đạt 4,4%, vốn FDI đăng ký mới và tăng
thêm dự kiến đạt 20 tỷ USD; tổng vốn ODA ký kết cả năm xấp xỉ 5,5 tỷ
USD, thị trường chứng khoán, bất động sản dần phục hồi.
Quan
trọng hơn, chính sách kích cầu thông qua hỗ trợ lãi suất đã tạo được
niềm tin cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, trở thành “liều thuốc” kích
thích sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho hàng ngàn doanh
nghiệp.
Có sự chồng chéo chính sách
Tuy
nhiên, kết quả giám sát của Ủy ban Tài chính Ngân sách cho thấy, bên
cạnh những mặt tích cực trên, chính sách hỗ trợ lãi suất vẫn còn một số
tồn tại, bấp cập trong quá trình ban hành lẫn tổ chức thực hiện.
Về
bất cập trong chính sách hỗ trợ lãi suất, Ủy ban Tài chính Ngân sách
cho rằng, việc triển khai đồng thời nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng
với thực thi chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng
đã làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao, vượt
quá khả năng huy động vốn của nền kinh tế, gây sức ép lên thị trường
tài chính, ngoại hối.
Công
tác giám sát cho thấy, từ đầu năm đến nay, tình trạng mất cân đối cung
cầu ngoại tệ trong nền kinh tế diễn ra thường xuyên, dẫn đến mất cân
đối trên thị trường ngoại hối. Lãi suất cho vay VND sau khi được hỗ trợ
lãi suất còn khoảng 4% - 6,5%/năm, tương đương lãi suất cho vay bằng
USD, nhưng do lo ngại rủi ro tỷ giá, các doanh nghiệp nhập khẩu chuyển
sang vay VND để mua ngoại tệ tiền nhập khẩu hàng hóa.
Bên
cạnh đó, vẫn có tình trạng doanh nghiệp có vốn tự có gửi vào ngân hàng
thương mại để hưởng lãi suất cao, nhưng vẫn vay vốn VND để hưởng lãi
suất 4%, hay có nhiều doanh nghiệp lập phương án sản xuất - kinh doanh,
dự án đầu tư với thời hạn trả nợ kéo dài để được hưởng hỗ trợ lãi suất
dài hơn. Thậm chí đã có những hiện tượng lợi dụng cơ chế hỗ trợ lãi
suất để trục lợi làm cho rủi ro tín dụng có nguy cơ tăng cao.
Đồng
thời, chính việc quy định đối tượng quá rộng lại có sự trùng lặp, chồng
chéo khi cho hỗ trợ lãi suất nên đã không khuyến khích được cơ cấu lại
nền kinh tế theo hướng ưu tiên những ngành nghề, lĩnh vực nào cần phát
triển.
Thừa
nhận có sự chồng chéo, bất hợp lý trong chính sách hỗ trợ lãi suất, Phó
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho biết, bản thân cơ
quan này cũng đã từng đề xuất với Chính phủ không nên ban hành hai
quyết định liên quan đến hỗ trợ lãi suất vì có sự chồng chéo.
Hơn
nữa, theo ông Tiến, có nhiều máy móc thiết bị cần thiết cho nông dân
nhưng lại không được đưa vào danh mục hỗ trợ vay, xác định các sản phẩm
sản xuất có 40% sản xuất trong nước cũng rất khó khăn.
Còn
việc cho vay mua vật liệu làm nhà, trong khi Chính phủ quy định các đối
tượng khó khăn vùng sâu vùng xa chỉ được vay tối đa 8 triệu đồng để
xây, sửa chữa nhà thì các đối tượng thuộc diện hỗ trợ lãi suất lại được
vay tới 50 triệu.
Cho vay khép kín
Tuy
nhiên, theo đánh giá của đoàn giám sát, tồn tại chủ yếu của chính sách
hỗ trợ lãi suất vấn chủ yếu nằm ở khâu triển khai thực hiện. Đoàn giám
sát đã chỉ ra 5 tồn tại, bất cập:
Một
là, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc xây dựng cơ chế
hỗ trợ lãi suất chưa thật tốt, nổi lên là sự trùng lắp về đối tượng của
các quyết định 131, 443, 497 của Thủ tướng. Đặc biệt, Quyết định 497
được ban hành trong khi chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng về quy trình, thủ
tục và điều kiện hỗ trợ lãi suất vay vốn dẫn tới khó phân biệt đối
tượng nào được vay và không được vay.
Viện
dẫn bất cập trên, ông Nguyễn Văn Sỹ (Ủy viên Ủy ban Tài chính Ngân
sách) cho rằng, quy định về mức cho vay đối với sản phẩm vật tư nông
nghiệp là 100% nhưng lại không quá 7 triệu đồng là quá thấp và không
phù hợp với thực tế. Hoặc cho vay mua vật liệu xây nhà đối với người
dân cũng không khả thi vì nếu lấy hóa đơn mua vật liệu, họ phải chịu
thêm 10% VAT, trong khi hỗ trợ lãi suất chỉ có 4%.
Hai
là, việc hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và các định chế cho vay hỗ
trợ lãi suất còn có nhiều điểm chưa cụ thể, kịp thời, chưa lường hết
các tình huống xảy ra dẫn đến tình trạng lúng túng trong tổ chức thực
hiện của cán bộ ngân hàng trong 2 - 3 tháng đầu thực hiện cho vay hỗ
trợ lãi suất.
Kết
quả giám sát cũng cho thấy, năng lực, trình độ quản trị, mức độ quan
tâm chỉ đạo của lãnh đạo các tổ chức tín dụng còn khác nhau, dẫn đến
hiệu quả của mỗi tổ chức tín dụng cũng thể hiện nhiều cấp độ thành công
khác nhau.
Ba
là, trong quá trình triển khai cơ chế hỗ trợ lãi suất, có một số sai
phạm mang tính phổ biến mà nhiều ngân hàng thương mại mắc phải như: hồ
sơ vay vốn thiếu chứng tư chứng minh mục đích sử dụng vốn vay, thiếu
hóa đơn, chứng từ hoặc hóa đơn xuất trước ngày bắt đầu được hỗ trợ lãi
suất (1/2/2009) khá xa hoặc cho vay sai đối tượng quy định.
Bốn
là, không tiến hành thông tin, tuyên truyền phổ biến chính sách, thủ
tục vay vốn một cách có hệ thống, bài bản của các ngân hàng thương mại,
công ty tài chính. Đa số chỉ tập trung khép kín việc phổ biến cho ngân
hàng truyền thống.
Năm
là, công tác quản lý hồ sơ vay vốn ở một số chi nhánh mà đoàn giám sát
kiểm tra đều chưa tốt, có một số tình trạng yếu tố pháp lý trong hợp
đồng vay vốn chưa được đảm bảo, tình trạng chứng từ thiếu chữ ký, thiếu
hóa đơn vẫn xảy ra.
Theo
ông Đinh Trịnh Hải, Phó chủ nhiệm Ủy Ban Tài chính Ngân sách, Trưởng
đoàn giám sát, do chính sách vay vốn hỗ trợ lãi suất là một cách làm
mới, trong một thời điểm khó khăn, cấp thiết nên nhiều nội dung chưa
được nghiên cứu kỹ lưỡng, chưa lường hết được những tình huống cụ thể.
Chính điều này đã gây nên sự lúng túng, tâm lý e ngại về trách nhiệm của phần lớn cán bộ, lãnh đạo các tổ chức tín dụng.
Với
những tồn tại trên, Ủy ban Tài chính Ngân sách đã kiến nghị Quốc hội
yêu cầu Chính phủ phải chỉ đạo tổ chức đánh giá toàn diện hiệu quả kinh
tế - xã hội và báo cáo kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất tại
kỳ họp thứ 8, 9 sắp tới của Quốc hội.
Theo VnEconomy.
|