|
Suy
thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng
hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ.
Đó
là nhận định được đưa ra trong bài viết “Great stabilisation” (tạm
dịch: “Đại bình ổn hóa”), nhìn lại suy thoái kinh tế thế giới năm qua
và triển vọng phục hồi sắp tới, đăng trên tờ Economist.
VnEconomy xin giới thiệu với độc giả bản lược dịch bài viết này.
Năm
2009 được nhiều người xem như một năm suy thoái nghiêm trọng của kinh
tế toàn cầu, trong đó sản lượng của nền kinh tế thế giới trải qua sự
sụt giảm nghiêm trọng nhất kể từ Chiến tranh Thế giới thứ 2 tới nay.
Nhưng có lẽ, sẽ là hợp lý hơn nêu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của
kinh tế thế giới, vì năm nay không chỉ đáng nhớ vì tốc độ sụt giảm
chóng mặt của sản lượng, mà còn vì một thảm họa kinh tế đã được ngăn
chặn một cách ngoạn mục.
Cách
đây 12 tháng, cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Ngân hàng Đầu tư Lehman
Brothers đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các
hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại
thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập
niên 1930.
Tuy
nhiên, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài
tháng. Những nền kinh tế đang nổi lên đã tăng tốc đầu tiên và mạnh hơn
cả. Sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng
7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý 3 vừa
qua. Đến giữa năm, những nền kinh tế lớn, giàu có của thế giới, ngoại
trừ Anh và Tây Ban Nha, đã bắt đầu tăng trưởng trở lại. Tới thời điểm
này, trên thế giới hiện chỉ còn một vài nền kinh tế như Latvia và
Ireland là vẫn còn chưa thoát khỏi vòng vây của suy thoái.
Tuy
nhiên, những thiệt hại mà suy thoái đã gây ra cho kinh tế thế giới là
không hề nhỏ. Tỷ lệ thất nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong Tổ
chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy
thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ thất nghiệp đã tăng gấp đôi
lên 10%. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài
nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động
tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm
cao.
Mặc dù
vậy, nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung
Quốc, Ấn Độ và Indonesia, nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống
chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn
ra trong lần suy thoái 1991. Đối với nhiều người trên thế giới, lần suy
thoái này đã không quá khủng khiếp.
Nhưng
điều này không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của những động thái
phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của
các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc
bằng hàng trăm tỷ USD tiền thuế của dân. Các ngân hàng trung ương đua
nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng
cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích
thích kinh tế lớn.
Những
biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài
chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không có
những giải pháp như vậy, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.
Nhưng
mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình
bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì
nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt
khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối
cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.
Giá
nhà đất vẫn suy giảm tại đa số các thị trường, việc nước Áo cách đây ít
ngày quốc hữu hóa ngân hàng Hypo Group cho thấy, hệ thống tài chính thế
giới chưa hết căng thẳng. Những bằng chứng rõ nét về sự thanh công,
chẳng hạn việc các ngân hàng lớn của Mỹ sớm trả lại tiền cứu trợ của
Chính phủ, có thể khiến người ta dễ dàng quên mất rằng, sự phục hồi
kinh tế vẫn còn đang phải dựa trên hoạt động chi tiêu công.
Nếu
bỏ qua những tác động tạm thời của hoạt động gia tăng sản xuất để tăng
hàng tồn kho của các doanh nghiệp, thì phần nhiều của sự phục hồi nhu
cầu toàn cầu là kết quả của chi tiêu công. Hoạt động gia tăng hàng tồn
kho đã giúp thúc đẩy sự phục hồi tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi
chỉ có thể ngăn chặn sự trở lại của suy thoái tại nhiều nền kinh tế
giàu có.
Sự
khác biệt như vậy giữa các nền kinh tế phát triển và đang nổi lên trong
tiến trình phục hồi sẽ còn tiếp diễn. Nhu cầu tại các nước giàu sẽ vẫn
còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao trong các hộ
gia đình và hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt.
Tỷ
lệ nợ so với thu nhập của các hộ gia đình ở Mỹ hiện chỉ thấp hơn mức
đỉnh chút ít và cao hơn khoảng 30% so với thời điểm cách đây một thập
kỷ. Các hộ gia đình ở Anh và Tây Ban Nha vẫn chưa giải quyết được gì
đáng kể tình hình nợ nần, nên khả năng chi tiêu cá nhân còn bị kìm hãm
trong thời gian tới là rất cao. Thêm vào đó, với gánh nặng nợ nần gia
tăng, chính phủ các nước giàu sẽ gặp khó trong việc vay mượn thêm để bù
đắp cho sự sa sút của nhu cầu tư nhân.
Do
vậy, sự tương phản với các nền kinh tế đang nổi lên sẽ càng rõ nét hơn.
Các nhà đầu tư gần đây đã lo lắng về nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, và thậm
chí là cả một số quốc gia khác trong khu vực sử dụng đồng Euro. Thậm
chí cả Anh và Mỹ cũng có thể phải đối mặt với mức chi phí vay nợ gia
tăng.
Trong
khi đó, những nền kinh tế mới nổi lên lại đương đầu với thách thức hoàn
toàn ngược lại: rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa
chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền
tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Chính sách tiền tệ nới lỏng
tại các nước giàu khiến các nền kinh tế mới nổi khó thực hiện thắt
chặt, vì nếu làm vậy, họ sẽ càng thu hút các dòng vốn đầu cơ từ nước
ngoài.
Liệu
kinh tế thế giới có dịch chuyển trơn chu từ bình ổn sang phục hồi bền
vững hay không còn phụ thuộc vào việc những khác biệt nói trên giữa hai
nhóm nền kinh tế sẽ được giải quyết ra sao.
Một
số lời giải cho bài toán này không khó tìm. Chẳng hạn, nếu Trung Quốc
tăng tỷ giá Nhân dân tệ, nền kinh tế của nước này sẽ cân bằng hơn, đồng
thời giảm áp lực đối với các nền kinh tế mới nổi khác. Nếu chính phủ
các nước giàu đưa ra được kế hoạch khả thi cho việc cắt giảm chi tiêu
tài khóa trong trung hạn, thì rủi ro về việc tăng lãi suất trong dài
hạn cũng sẽ giảm bớt.
Tuy
nhiên, những đánh đổi tất yếu sẽ xảy ra. Thắt chặt tài khóa ở thời điểm
này sẽ chặn đứng sự phục hồi kinh tế của các nước giàu. Chính sách tiền
tệ thả lỏng ở Mỹ tốt cho kinh tế Mỹ, nhưng sẽ làm căng thẳng thêm những
thách thức mà các nền kinh tế mới nổi đang đối mặt.
Đó
là lý do tại sao các nhà hoạch định chính sách đang đứng trước những
khó khăn lớn về mặt kỹ thuật trong việc rút lui khỏi các kế hoạch kích
thích tăng trưởng.
Tệ
hơn, những thách thức này xảy đến với các nhà hoạch định chính sách
trên một bức màn chính trị u ám. Việc nước Anh mới đây tuyên bố đánh
thuế vào tiền thưởng của ngành ngân hàng đã cho thấy, chính sách tài
khóa tại các nước giàu có nguy cơ bị ảnh hưởng mạnh bởi sự bất bình gia
tăng của dân chúng đối với các ông chủ nhà băng và các gói giải cứu.
Tại
Mỹ, sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (FED) đang đối mặt áp lực phải
giảm bớt từ phía Quốc hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao cũng đồng nghĩa với
nguy cơ gia tăng xung đột thương mại giữa các quốc gia, khi mà các nước
tìm cách bảo vệ thị trường việc làm của mình.
Có
thể rút ra điều gì từ tất cả thực trạng trên? Những người có quan điểm
bi quan thì đề phòng mọi loại cú sốc có thể xảy ra trong năm 2010, từ
khủng hoảng nợ công (giả sử Hy Lạp vỡ nợ) tới sự lan tràn của chủ nghĩa
bảo hộ. Dễ xảy ra hơn cả là những sự việc kiểu như lợi suất trái phiếu
tăng mạnh, hay những quyết định tài khóa “thiển cận” (chẳng hạn như
đánh thuế vào các giao dịch tài chính), hoặc đình công đòi tăng lương...
Rõ ràng, lúc này vẫn còn là thời điểm quá sớm để ăn mừng.
(Theo Economist)
Theo VnEconomy.
|