Xã hội
Đời sống
Cuộc đấu tranh ngoại giao suốt 823 ngày đêm giữa sào huyệt địch
| Cuộc đấu tranh ngoại giao suốt 823 ngày đêm giữa sào huyệt địch |
|
|
|
Việt Nam ta có rất nhiều kinh nghiệm đúc rút
được từ tổ chức và hoạt động của Ủy ban Quốc tế (UBQT) từ Hiệp định
Giơnevơ tháng 7/1954 trong cuộc kháng chiến chống Pháp nên rất coi
trọng tổ chức và hoạt động của UBQT được tổ chức theo Hiệp định Paris
về Việt Nam 27/1/1973 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Chung quanh vấn đề quốc tế quan trọng này ta và đối phương có 2 quan điểm chính và nhiều chủ trương cụ thể rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau, phải qua đấu tranh không khoan nhượng, rất phức tạp, đôi khi rất quyết liệt mới đi đến những điều khoản thống nhất đã được ghi trong Hiệp định Pari về Việt Nam và Nghị định thư kèm theo. Trước hết, hãy xem hai quan điểm chính giữa ta và Mỹ đối lập nhau thế nào? Về phía Mỹ: Mỹ để cho vai trò của UBQT, coi đó là tổ chức có quyền lực cao nhất trong bộ máy thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam, đứng trên Ban Liên hiệp quân sự (LHQS). Ý đồ đen tối của Mỹ là dùng tổ chức quốc tế này duy trì nguyên trạng chính trị ở miền Nam, củng cố thế lực cho chế độ Sài Gòn, kiềm chế lực lượng, thắng lợi và uy tín của cách mạng miền Nam, bảo vệ chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ trong điều kiện Mỹ buộc phải chấm dứt hoàn toàn dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam. Về phía ta: Ngược lại, ta đề cao vai trò Ban LHQS, coi việc thi hành hiệp định là trách nhiệm của các bên đã ký kết. 4 bên LHQS gồm đại diện của các bên có liên quan có vai trò quyết định nhất trong thi hành hiệp định, có nhiệm vụ, chức năng định ra thể thức thi hành hiệp định và trực tiếp thực thi các nhiệm vụ, chức năng, thể thức đó UBQT có vị trí, vai trò rất quan trọng là thể hiện sự công nhận của quốc tế đối với giá trị của hiệp định và bảo đảm sự đánh giá khách quan, trung lập trong việc thi hành nghiêm chỉnh hiệp định mà 4 bên đã ký kết. UBQT có vai trò quan trọng kiểm soát và giám sát việc thi hành hiệp định trong mối quan hệ phối hợp chặt chẽ và dựa trên hoạt động của Ban LHQS, không đứng ngoài lại càng không thể đứng trên Ban LHQS. Ta coi UBQT là một sách lược quan trọng trong giải pháp chính trị, tranh thủ dư luận quốc tế phục vụ cho cuộc đấu tranh của ta trên cả 3 mặt: chính trị, quân sự, ngoại giao. Hai quan điểm đối lập nhau đó lại được thể hiện rất rõ trên từng chủ trương, từng vấn đề cụ thể về tổ chức bộ máy, về tài chính, về nhiệm vụ, quyền hạn... của UBQT. Về tổ chức bộ máy của UBQT: Mỹ đòi lập bộ máy UBQT rất lớn từ Trung ương xuống địa phương rải khắp miền Nam có tổng số từ 7.000-12.000 người với 334 tổ công tác, có vũ trang, bố trí dày đặc nhiều tổ dọc khu phi quân sự và biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Ngược lại, Mỹ rất coi nhẹ tổ chức Ban LHQS, chỉ cần ở cấp Trung ương, khu vực và tổ với 500 người. Ý đồ thâm độc của Mỹ là dưới danh nghĩa của UBQT, hợp pháp hóa đưa vào miền Nam Việt Nam một đội quân chiếm đóng nước ngoài làm nhiệm vụ cảnh bị quốc tế thay thế quân Mỹ buộc phải rút hết, nhằm ngăn chặn tấn công và nổi dậy của quân và dân miền Nam, bịt chặt các cửa khẩu ra vào dọc khu phi quân sự và biên giới, để triệt để cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam, phục vụ cho âm mưu tăng cường chiến tranh, vi phạm và phá hoại hiệp định của Mỹ - ngụy. Trên đây là một trong những vấn đề mâu thuẫn rất gay cấn giữa ta và Mỹ. Ta chủ trương tổ chức bộ máy LHQS phải cao hơn với số người nhiều hơn UBQT. UBQT chỉ có bộ máy tổ chức hợp lý, số lượng nhân viên vừa phải, không có vũ trang, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tối đa là 55 tổ với 600 người và con số này sẽ giảm dần trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước. Kết quả đàm phán cuối cùng được xem là thắng lợi của ta. Ta đã đạt được thỏa thuận theo hiệp định và nghị định thư là UBQT có 1.160 nhân viên với 59 tổ công tác các loại, trong khi đó, Ban LHQS có 3.300 người với 7 tổ khu vực và 26 tổ địa phương. Tỉ lệ thành viên UBQT và Ban LHQS là 1/3. Một tỉ lệ nói lên thắng lợi của ta, thất bại của Mỹ. Về tài chính của UBQT: Mỹ cũng lợi dụng biến vấn đề tưởng chừng đơn thuần về tiền bạc này thành công cụ, phương tiện phục vụ mưu đồ chính trị đen tối của họ. Mỹ đòi UBQT có một ngân sách lớn do ủy ban tự quyết định nhằm bảo đảm cho UBQT không bị hạn chế về tài chính trong việc xây dựng bộ máy và trong hoạt động phục vụ mưu đồ chính trị của Mỹ - ngụy. Mỹ đưa ra cách đóng góp không bình đẳng của kẻ giàu, theo tỉ lệ Mỹ - ngụy mỗi bên đóng góp 28%, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mỗi bên đóng góp 18%, nhằm dễ dàng dùng vấn đề tài chính lũng đoạn UBQT, đồng thời đề cao thiện chí của họ, hạ uy tín của ta. Ngược lại, ta chủ trương khống chế ngân sách của UBQT một cách hợp lý theo tổ chức và chức năng của Ủy ban; ngân sách dự trù của UBQT phải được 4 bên ký kết hiệp định duyệt trên cơ sở hằng năm và giảm dần theo quá trình hoàn thành nhiệm vụ từng bước; việc đóng góp phải theo tỉ lệ bình đẳng giữa 4 bên ký kết nhằm thể hiện thiện chí của ta, đề cao uy tín của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chống Mỹ - ngụy dùng tài chính thao túng UBQT. Do đấu tranh của ta có cơ sở pháp lý và thực tế vững chắc buộc Mỹ phải đồng ý 4 bên đóng góp bình đẳng 23% và 4 bên ký kết hiệp định thông qua ngân sách UBQT hằng năm. Mỗi nước thành viên UBQT đóng góp 2%. Về thành viên của UBQT: Hai bên đã đề cập trong cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger ngày 15/9/1972.
Ta đề nghị UBQT gồm 4 nước. Mỹ
vẫn đưa đề nghị UBQT gồm 5 nước và nói rõ thêm là 4 nước do hai bên
thỏa thuận, còn nước thứ 5 do Tổng thư ký LHQ chỉ định nhằm biến UBQT
thành công cụ riêng của Mỹ. Mỹ lại giới thiệu Nhật Bản và Indonesia làm
thành viên của UBQT. Mỹ còn yêu cầu đưa Nam Triều Tiên, một nước có
quân tham chiến tại miền Nam Việt
Như vậy, cuối cùng ta đạt được yêu cầu UBQT 4 thành viên quốc gia có sự cân bằng lực lượng của đại diện mỗi bên trong UBQT.
Về nhiệm vụ, quyền hạn của
UBQT: Mỹ đòi UBQT có vị trí, vai trò, quyền hạn cao hơn với nhiệm vụ và
hoạt động rộng hơn cả Ban LHQS, hoạt động không hạn chế, hoạt động độc
lập, tự do đi lại khắp miền Nam Việt Nam, thậm chí khắp Việt Nam; tự ý
điều tra vi phạm ngăn ngừa, phát hiện vi phạm, giải quyết vi phạm, có
quan hệ với UBQT Lào, Campuchia. Ngang ngược hơn Mỹ còn đòi UBQT chỉ
trực thuộc Hội nghị Quốc tế, có đặc quyền bất khả xâm phạm cao hơn Đoàn
ngoại giao, đứng trên Ban LHQS...
Ta kiên quyết bãi bỏ và đấu
tranh không khoan nhượng quan điểm sai trái này của Mỹ. Do lập luận của
ta vững chắc có cơ sở pháp lý nên buộc Mỹ phải chấp nhận quan điểm của
ta về vấn đề quan trọng này. Ta chủ trương UBQT chỉ có chức năng kiểm
soát và giám sát việc thi hành các điều khoản được quy định trong hiệp
định, không lấn sang nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng của Ban LHQS. UBQT
trực thuộc 4 bên ký kết Hiệp định
Thực tế ở Việt Nam đã cho thấy
rằng với Hiệp định Giơnevơ 1954, sự có mặt của UBQT đã chẳng không có
hiệu lực phát hiện, ngăn chặn nguy cơ Mỹ - ngụy vi phạm trắng trợn hiệp
định tăng cường chiến tranh xâm lược, phá hoại hiệp định đó sao? Trên
cơ sở phân tích có lý với lập luận vững chắc đó ta khẳng định rằng:
UBQT không thể đứng trên và hoạt động rộng hơn Ban LHQT được.
Qua 4 tháng (từ 15/9/1972 đến
19/1/1973) đấu tranh kiên quyết và lập luận vững chắc trên của ta, Mỹ
buộc chấp nhận về cơ bản quan điểm của ta như đã ghi trong hiệp định và
Nghị định thư: "Việc thi hành hiệp định là trách nhiệm của các bên ký
kết. Nhiệm vụ UBQT là kiểm soát và giám sát các điều khoản nói trong
"Điều 18 của hiệp định". UBQT điều tra các vi phạm theo yêu cầu của Ban
LHQS và khi tiến hành nhiệm vụ này UBQT sẽ hành động với sự giúp đỡ và
hợp tác của các bên có liên quan...
Nếu nói "Hiệp định Paris là
thắng lợi ngoại giao tuyệt vời" (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng), "là một
thất bại lớn của Mỹ" - (cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ) thì cũng có thể
nói ta đấu tranh buộc Mỹ chấp nhận về tổ chức bộ máy và hoạt động của
UBQT theo chủ trương của ta như đã ghi tại Điều 18 của hiệp định là
thắng lợi quan trọng của ta, là thất bại của Mỹ - ngụy.
UBQT kiểm soát và giám sát được thành lập ngày 24/1/1973, hoạt động và tồn tại đến những ngày cuối tháng 4/1975.
Việc ta giành toàn thắng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn và toàn miền
Qua hơn 2 năm hoạt động UBQT
có lúc thuận lợi, lúc gặp khó khăn nhưng kết quả đạt được đáng ghi nhận
và có thể rút ra một số kết luận sau:
UBQT kiểm soát và giám sát có vị trí, vai trò quan trọng trong giải pháp về mặt quốc tế của Hiệp định
Mặc dù âm mưu Mỹ - ngụy rất
thâm độc nhưng ta và các thành viên XHCN (Ba Lan, Hungari) đã phối hợp
chặt chẽ, đấu tranh tốt, đem lại một số kết quả tích cực, nổi bật là:
+ UBQT đã thực hiện được nhiệm vụ kiểm soát và giám sát Mỹ và quân chư hầu rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt
+ Đáng chú ý là trong tổng số
390 cuộc điều tra của UBQT đã tiến hành, UBQT đã kết luận được 5 vụ
ngụy quyền Sài Gòn vi phạm hiệp định như: lấn chiếm Cửa Việt
(28/1/1973), hành hung Đoàn ta ở Huế (10/2/1973), bắn phá vào trụ sở
UBQT ở Bảo Lộc (2/4/1973), bắn phá vào núi Giai ở Tri Tôn (3/4/1973).
Trong khi đó, UBQT đã không có
bất cứ một kết luận vi phạm nào đối với phía ta, kể cả những vụ ngụy
quyền Sài Gòn làm rùm beng vu cáo ta về việc máy bay UBQT bị rơi ở Ly
Tôn, quân ngụy tháo chạy ở Tống Lê Chân (Tây Ninh), cái gọi là "tù binh
Bắc Việt", bắn pháo vào Trường trung học Cai Lậy (Tiền Giang)...
+ Ta đã gửi đến UBQT một số
lượng công hàm áp đảo đối phương để tố cáo, vạch mặt phá hoại hiệp
định, đẩy mạnh chiến tranh. Qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh dư luận
chung, tạo thuận lợi cho hỗ trợ và phục vụ chiến trường, đặc biệt là
trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh cho ngụy nhào vào lúc 11h30
ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Nói cách khác có thể khẳng
định rằng: Mỹ đã thất bại trong âm mưu lợi dụng UBQT phục vụ mưu đồ phá
hoại Hiệp định biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ,
ta đã giành thắng lợi trong việc dựa vào UBQT, tổ chức quốc tế quan
trọng này làm cơ sở pháp lý để tố cáo Mỹ - ngụy phá hoại hiệp định,
tranh thủ được dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ ta có lợi cho cuộc
đấu tranh ngoại giao, quân sự của ta suốt 823 ngày đêm giữa sào huyệt
địch. * Nguyễn Hùng Đào - Nguyên sĩ quan báo chí Đoàn Đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Theo CAND.
|
| < Trước | Tiếp > |
|---|
Các tin mới cập nhật
- Dành mọi ưu tiên để tăng cường quan hệ Việt Nam - Lào
- Cấm vận dầu lửa chống Iran: người thua thiệt, kẻ đắc lợi
- Vì sao Nga, Trung “dàn trận” chống Mỹ?
- Thanh long Chợ Gạo được cấp mã số xuất sang Mỹ
- TP.HCM đầu tư công nghệ kích ngầm để không lệ thuộc nước ngoài
- Nga cam kết an toàn hạt nhân cho điện Ninh Thuận
- Thương vụ DOJI - TienPhong Bank: Vận may của một chú cá
- Thủ tướng tiếp chủ tịch Ex-Im Bank và đại sứ Brazil
- Beeline được cấp thêm 1 triệu số mới
- Từ 20/2/2012, chứng khoán giao dịch thêm buổi chiều
Các tin xem nhiều nhất
- Tình hình kinh tế và thị trường tài chính thế giới 27/8 - 03/9/2009
- Chính sách tài khoá "cãi" chính sách tiền tệ?
- Những quy tắc mới trong hôn nhân
- Vì sao phụ nữ lãnh cảm?
- Cuộc sống vẫn còn những cơ hội...
- Người yêu cũ – Con cá mất có phải là cá to?
- Những nỗi sợ khi lần đầu làm bố
- Nghệ thuật ... giấu giếm
- Tình đầu đâu dễ quên
- Vai trò của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy
Thị trường CK
| Từ 20/2/2012, chứng khoán giao dịch thêm buổi chiều + Đọc tiếp |
| Các bài khác |
Tiêu điểm
Ai đang trực tuyến ?
Chúng ta có 22 khách trực tuyếnThống kê trực tuyến







![]() | Hôm nay | 630 |
![]() | Hôm qua | 1056 |
![]() | Tuần này | 7342 |
![]() | Tháng này | 11312 |
![]() | Tất cả | 395404 |

















