|
Nhìn bề ngoài, tưởng chừng như Trung Quốc đang ngày một lấn sân sang
khu vực Asean, đồng thời không ngừng tăng cường sự hiện diện cả về quân
sự cũng như kinh tế của mình tại đây; song liệu thực chất vấn đề này có
vững chắc như Bắc Kinh tưởng tượng?
Đối với quan hệ kinh tế.
Mặc dù khu tự do thương mại
Asean và Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực từ này 1/1/2010. Đây có thể coi
là một bước đột phá trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước
thành viên Asean. Điều này mở ra cho hai bên nhiều lợi ích, trong đó có
việc kích thích kim ngạch thương mại song phương. Theo đó, Trung Quốc
và sáu nước phát triển nhất là Brunei, Indonexia, Malaisia,
Phillippine, Singapore và Thái Lan sẽ cắt giảm hoặc bãi bỏ toàn bộ thuế
nhập khẩu đánh vào 90% các mặt hàng và dịch vụ. Bốn nước còn lại là
Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam sẽ tham gia sân chơi này vào năm
2015. Bên cạnh dự báo tổng kim ngạch thương mại hai chiều năm 2011 sẽ
đạt ngưỡng 200 tỷ USD, cao gấp đôi so với năm 2005.
Cũng theo
hiệp định của khu tự do thương mại này, các nước Đông Nam Á sẽ có “điều
kiện” xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng thế manh như nông, lâm
thủy sản, nguyên, nhiên liệu…còn Trung Quốc sẽ có cơ hội nhập khẩu các
nguồn nguyên liệu, nhiên liệu trong đó có cao su, dầu khí…với giá rẻ,
qua đó phục vụ thuận lợi cho ngành công nghiệp đang phát triển quá nóng
của mình. Và cũng không phải ngẫu nhiên khi Trung Quốc “nhiệt tình” hối
thúc các nước Asean ký kết văn kiện của khu tự do thương mại. Bởi với
Trung Quốc, Asean chỉ là nơi cung cấp nguyên, nhiên liệu giá rẻ cho
chương trình phát triển kinh tế lâu dài của mình mà thôi.
Điều
này vô hình chung đã gây lên những bất đồng tự thân nội bộ một số nước
trong Asean khi ký kết các văn kiện này. Trong đó phải kể đến
Indonexia. Theo đó, Indonesia đòi có thêm thời gian để thích nghi, đòi
thương thuyết lại trên 228 sản phẩm, trong đó có dệt may và giày dép.
Tuy nhiên Bắc Kinh đã từ chối đề nghị trên.
Bên cạnh đó, một khi
khu tự tự do thương mại này khởi động, hàng hóa Trung Quốc với giá rẻ
sẽ tràn ngập thị trường Asean. Điều này sẽ là một trở lực lớn đối với
các nhà sản xuất nội địa các nước khu vực Đông Nam Á, đặc biệt với các
nước có trình độ khoa học và sản xuất thấp kém như Lào, Camphuchia,
Việt Nam…
Nhu vậy nhìn bề ngoài người ta tưởng như quan hệ kinh
tế Asean – Trung Quốc khá tốt đẹp, song bên trong luôn ẩn chứa những
nhân tố bất định, khó lường.
Đối với quan hệ quân sự.
Gân
đây, người ta thấy một hiện tượng khá bất thường khi cả ba hạm đội hải
quân của Trung Quốc cùng một lúc phô diễn sức mạnh quân sự của mình
trên biển Đông.
Bên cạnh đó, tháng 12 năm 2008, việc Trung
Quốc quyết định tham gia hoạt động "chống cướp biển quốc tế" tại Vịnh
Aden chứng tỏ Bắc Kinh ngày càng tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng của
mình trên biển. Những động thái trên cho thấy Trung Quốc như muốn phát
đi một tín hiệu rằng "Trung Quốc đã có đủ năng lực tác chiến xa bờ -
một tư duy chiến lược mới trên biển bảo vệ quyền lợi của Bắc Kinh."
Các
nước Đông Nam Á không hoan nghênh áp lực của hải quân Trung Quốc ngày
càng gia tăng như hiện nay. Và vô hình chung nó đã đặt quan hệ giữa
Đông Nam Á và Trung Quốc trên nền tảng không vững chắc.
- Thứ
nhất, việc hiện đại hóa của hải quân Trung Quốc cộng với sự hung hăng
và dường như không có giới hạn trong việc mong muốn thỏa mãn nhu cầu về
năng lượng đã tạo ra lập trường cứng rắn khi bàn về các vấn đề tranh
chấp lãnh thổ. Sự cứng rắn này đã khiến cho Bắc Kinh không thể trấn an
mối lo ngại xuất phát từ các quốc gia trong khu vực.
- Thứ
hai, lợi ích chiến lược khác nhau của các nước thành viên chủ chốt
trong việc ứng xử với Trung Quốc khiến cho Asean khó mà thành lập được
một mặt trận thống nhất.
- Thứ ba, để ra oai đối với Tân Cương,
Tây Tạng, và Đài Loan, Trung quốc buộc phải thực hiện chính sách trịch
thượng trong việc sử lý tranh chấp chủ quyền với các nước có chủ quyền
trong khu vực. Tuy nhiên, thói quen ngạo mạn của Trung Quốc trong việc
giải quyết tranh chấp lãnh thổ đang có nguy cơ bị "phá sản". Trung Quốc
không thể coi các nước trong khu vực như những vùng "chịu ảnh hưởng" để
có thể nêu ra yêu sách ngang ngược "trước sau như một". Hoặc là Trung
Quốc phải biết tự "kiềm chế" để tuân thủ theo luật pháp quốc tế, hoặc
là sẽ xẩy ra những cuộc chiến không khoan nhượng. Sự tự kiềm chế này
không thể không gây ra hiệu ứng lực từ người dân các vùng Tân Cương,
Tây Tạng, Đài Loan bởi Trung Quốc đang “chạm” vào sự tôn nghiêm, tín
ngưỡng của người dân khu vực này.
Theo Vitinfo.
|