|
Chỉ
số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến vào thời điểm 1/6/2010 đã
tăng 27,5% so với cùng thời điểm năm 2009, theo Tổng cục Thống kê.
Trong
khi đó, chỉ số tiêu thụ cũng của ngành này 5 tháng đầu năm chỉ tăng
13,5%, dẫn đến những quan điểm chưa mấy lạc quan về sự phục hồi sản
xuất công nghiệp.
Liệu
đây có phải là biểu hiện nền sản xuất tăng về sản lượng nhưng khó tiêu
thụ? Hay tồn kho cao vì để chuẩn bị cho chu kỳ tiêu dùng cuối năm?...
VnEconomy đặt câu hỏi với Vụ trưởng Vụ Công nghiệp - Xây dựng (Tổng cục
Thống kê) Phạm Đình Thúy.
Ông Thúy nói:
-
Tôi phải khẳng định tỷ lệ tồn kho như vậy là không quá cao, đã giảm rất
nhiều so với thời kỳ kinh tế suy thoái. Tỷ lệ tồn kho thời điểm này năm
2009 so với cùng thời điểm 2008 tăng 34,8% và thời điểm tồn kho đỉnh
điểm của thời kỳ khủng hoảng kinh tế trong năm 2009 đã đạt tới mức tăng
70,5% vào tháng 1/2009.
Sang đến năm nay, tỷ lệ tồn kho có xu hướng giảm dần và ở mức tăng 27,5%, theo tôi, đã là tốt lắm rồi.
Tham chiếu với chỉ số phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (7,64% - PV) và
chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo đều tăng hơn
trước, việc chỉ số tồn kho tăng thấp đi khẳng định hai điều.
Một là sản xuất ở trong điều kiện tốt hơn với tỷ lệ tồn kho đã giảm rất nhiều so với lúc khủng hoảng.
Hai
là, bước sang năm 2010, càng về cuối năm, kinh tế Việt Nam phục hồi và
phát triển hơn, việc làm của người lao động ổn định hơn, thu ngân sách
của Nhà nước tốt hơn nên người tiêu dùng có khả năng tiêu thụ hàng hóa
tốt hơn. Hơn nữa, hưởng ứng chủ trương “Người Việt Nam dùng hàng Việt
Nam” của Nhà nước, người dân Việt Nam cũng đã có thói quen tiêu thụ
hàng Việt Nam ngày một nhiều hơn. Qua đây cũng thấy rằng, chất lượng
hàng Việt Nam ngày càng cao hơn…
Ngoài
ra, xuất khẩu cũng phục hồi nhanh chóng trong những tháng đầu năm nay.
Dù chưa đạt mức kỳ vọng, nhưng đã hỗ trợ nhiều cho tiêu thụ sản phẩm
công nghiệp chế biến trong nước, góp phần làm cho tỷ lệ tồn kho giảm
xuống. Tôi cho tỷ lệ như thế này đã gần như là lý tưởng.
Nhưng
nếu so với chỉ số tiêu thụ 5 tháng đầu năm tăng 13,5%, rõ ràng mức tăng
tồn kho 27,5% là cao hơn nhiều. Ông nghĩ sao về tương quan này?
Theo
tôi, khi phân tích nên nhìn vào cả thời kỳ thì mới có thể đánh giá
chính xác. Chỉ số tồn kho rất cao ở hầu hết các thời điểm trong thời kỳ
khủng hoảng trong năm 2009, có thời điểm tăng trên 70%, mà xuống đến
mức như hiện nay thì đã thể hiện một xu hướng phát triển rất tốt của
công nghiệp chế biến, chế tạo rồi, kể cả sản xuất lẫn tiêu thụ.
Tôi
dự đoán, khi kinh tế phục hồi hoàn toàn thì chỉ số tiêu thụ sản phẩm
công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ tăng thêm một chút nữa, lên khoảng 15%
chẳng hạn, chỉ số tồn kho xuống khoảng 15-20% là vừa. Đây cũng là kịch
bản của nhiều năm nền kinh tế ở vào tình trạng phát triển bình thường.
Còn
chỉ số tồn kho có hơi cao vào thời điểm hiện nay nên hiểu là khi nền
kinh tế bắt đầu phục hồi, các doanh nghiệp sẽ kỳ vọng thời gian tới khả
năng tiêu thụ ngày càng phục hồi và ổn định hơn, nên đã thực hiện kế
hoạch sản xuất nhiều hơn, dự trữ hàng hóa cho tiêu thụ tốt hơn thời
gian tới.
Ngoài
ra, theo chu kỳ, thường là các tháng đầu năm hầu hết các doanh nghiệp,
nhất là khu vực FDI chưa ký được nhiều đơn hàng, chỉ từ các tháng giữa
năm trở đi, đơn hàng tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là xuất khẩu ngày càng
ổn định và nhiều hơn cũng là yếu tố kích thích sản xuất và tồn kho tăng
hơn.
Từ tháng
5 trở đi, nhiều doanh nghiệp sẽ bước vào giai đoạn sản xuất tối đa công
xuất, có thể chưa tiêu thụ nhưng họ đã tập trung năng lực cho sản xuất
để tiêu thụ vào những tháng cuối năm. Cho nên, có thể sản xuất tăng
nhanh nhưng tiêu thụ chưa đến thời điểm thì tồn kho có thể cao hơn tiêu
thụ là bình thường.
Ngoài
ra, doanh nghiệp cũng còn kỳ vọng vào khả năng tiêu thụ của thị trường
trong nước sẽ tăng lên sau khi nền kinh tế vượt qua giai đoạn suy giảm,
nên các doanh nghiệp sản xuất, dự trữ hàng hóa nhiều hơn và kỳ vọng để
tiêu thụ nhiều hơn trong thời gian tới. Nếu lúc thị trường có nhu cầu
mới bắt đầu sản xuất thì không kịp, nên họ cũng phải có kế hoạch tăng
sản xuất và dự trữ hàng hóa từ trước…
Tổng cục Thống kê đã liệt kê một số sản phẩm có tồn kho cao như: xi măng, ôtô - xe máy, rồi thức ăn gia súc, phân bón... Nên hiểu cụ thể hơn thế nào về điều này?
Khi
đi vào từng ngành thì cách nhìn nhận có khác vì phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Một là khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội địa sản xuất với hàng
nhập khẩu. Ngoài ra còn phụ thuộc vào chính sách thuế điều tiết của Nhà
nước, cụ thể là chính sách thuế xuất, nhập khẩu; chính sách hỗ trợ phát
triển sản xuất…
Với
ngành xi măng, đúng là sản phẩm này tồn kho khá cao. Điều này nói lên
việc định hướng phát triển xi măng cần được xem xét lại. Hiện nay, phát
triển xi măng của Việt Nam quá nhanh, số lượng doanh nghiệp mới được
thành lập ngày càng nhiều, trong khi mức độ tiêu thụ có hạn.
Tuy
nhiên chất lượng và giá cả tiêu thụ sản phẩm xi măng Việt Nam nhìn
chung rất tốt, chiếm lĩnh hầu hết thị trường xây dựng trong nước. Nhưng
cũng cần có định hướng phù hợp, không nên cấp phép thành lập mới quá
nhiều nhà máy dàn trải ở nhiều địa phương như hiện nay để đảm bảo sản
xuất ngành xi măng hiệu quả hơn.
Về
thức ăn chăn nuôi, do phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiêu thụ nên khi
dịch lợn tai xanh xảy ra trên diện rộng đã ảnh hưởng rất lớn. Tiêu thụ
giảm khiến không chỉ ngành chăn nuôi khó khăn mà ngay các nhà máy sản
xuất thức ăn chăn nuôi cũng vậy, bán không ai mua thì tồn kho phải tăng.
Theo
tôi, chỉ số tồn kho cao ở mặt hàng thức ăn chăn nuôi là do chăn nuôi và
tiêu thụ khó khăn ở lợn, gà và thủy sản…, cả tiêu thụ nội địa cũng như
xuất khẩu.
Riêng
ôtô - xe máy, đây là ngành biến động lớn, phụ thuộc vào nhiều vào chính
sách nội địa hóa, cũng như xuất nhập khẩu nguyên liệu đầu vào và sản
phẩm nguyên chiếc. Đặc biệt là nhập khẩu, chính sách thuế thay đổi rất
thường xuyên để tránh nhập tràn lan, hạn chế các doanh nghiệp có tỷ lệ
nội địa hóa không cao.
Tuy
nhiên, do tỷ lệ linh kiện Việt Nam làm ra rất thấp nên nhập khẩu linh
kiện ngành này thời gian vừa qua tăng rất mạnh, sản xuất phục hồi, nên
tồn kho cũng có phần cao lên vì thế.
Cũng
có nguyên nhân khác là một thời gian trước, các mặt hàng này trở nên
khan hiếm, đặc biệt là một số dòng xe hợp thị hiếu, vừa với túi tiền
người dân, dẫn tới các nhà sản xuất trong nước đẩy mạnh sản xuất. Nhưng
đến thời điểm này, tiêu thụ ôtô - xe máy nhìn chung đã chậm hơn, dẫn
tới tồn kho tăng cao.
Ngoài
ra, nhập khẩu xe dễ dàng hơn, tiêu thụ có lợi hơn cũng khiến một số
thời điểm trong năm nay lượng xe ôtô nhập khẩu tăng khá cao. Khi mà
người tiêu dùng tăng tiêu thụ xe nhập khẩu thì ảnh hưởng đến tiêu thụ
xe sản xuất trong nước…
Gần
đây, việc chỉ số giá bán của người sản xuất tăng với tốc độ cao hơn chỉ
số giá tiêu dùng được giải thích rằng khâu trung gian phân phối sẽ bị
giảm lợi nhuận, không khuyến khích họ đẩy mạnh bán hàng, làm tăng tồn
kho. Quan điểm của ông thế nào về vấn đề này?
Thực
ra, tồn kho có tính chất thời điểm, doanh nghiệp không thể để tồn kho
mãi được. Theo tôi, nhà sản xuất chỉ chịu được tồn kho cao trong một
thời gian nhất định, nếu báo động đến mức nào đó thì kiểu gì họ cũng
phải giải phóng hàng, thu hồi lại vốn. Hơn nữa, trong thời kỳ kinh tế
khủng hoảng, thu nhập của người dân bị giảm, họ cắt giảm chi tiêu là
chuyện thường tình.
Việc
này thường dẫn đến việc hạ giá bán của các nhà sản xuất và phân phối,
chính điều này là một trong những nguyên nhân làm giảm chỉ số giá tiêu
dùng. Tức là chính người sản xuất cũng bị thiệt chứ không hoàn toàn ở
khâu phân phối.
Có
thể hiểu thế này, khi mà tình hình còn khó khăn thì cả người sản xuất
và người kinh doanh đều phải chịu thiệt cả. Các cơ sở sản xuất với cả
một cơ ngơi đầu tư, rồi lao động có tay nghề, mặc dù tiêu thụ khó khăn
vẫn phải cố gắng duy trì sản xuất, giữ khách hàng,… Điều này kể cả khâu
phân phối cũng vậy, cũng phải duy trì hoạt động kinh doanh hàng hóa,
giữ khách hàng, trả lương nhân công... Kinh doanh là như vậy, họ phải
duy trì dù lợi nhuận thấp để kỳ vọng bù đắp lại và phát triển sau này.
Nhưng
tồn kho cao cũng chỉ tồn tại trong một thời gian, sau đó các doanh
nghiệp sẽ phải tự điều chỉnh để có mối quan hệ phù hợp, an toàn và ổn
định tỷ lệ giữa sản xuất - tiêu thụ - tồn kho.
Theo VnEconomy.
|