|
Với mục đích ngăn chặn và thu hẹp ảnh hưởng của Trung Quốc, mở rộng ảnh
hưởng của mình, trong thời gian gần đây Mỹ rất quan tâm đến việc điều
động lực lượng quân sự và gia tăng ảnh hưởng tới khu vực này.
Xét về mặt địa lý, khu vực Đông Nam Á là yếu địa chiến lược giữa Thái
Bình Dương và Ấn Độ Dương, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện "chiến
lược toàn cầu" của Mỹ. Nhìn từ góc độ quân sự, khu vực này có vị trí
chiến lược quan trọng như là một đối trọng với Trung Quốc. Bên cạnh đó,
số dân theo đạo Hồi ở Đông Nam Á rất lớn - điều làm cho khu vực trở
thành mặt trận quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ.
Chỉ
cần với những lý do trên đã đủ thu hút Mỹ tới Đông Nam Á thông qua
nhiều hoạt động quân sự như: điều động và tăng cường lực lượng, đẩy
mạnh hoạt động phối hợp quân sự chung trên nguyên tắc song phương và đa
phương, hoạt động hỗ trợ quân sự và hỗ trợ nhân đạo….Quá trình này đã
được diễn ra khá sôi động tại một số quốc gia Đông Nam Á trong thời
gian gần đây.
Để chứng minh cho cụm từ “đẩy mạnh ảnh hưởng quân
sự” thì không khỏi nhắc tới Campuchia, một quốc gia được coi là nghèo
trong khu vực Đông Nam Á và là một quốc gia đang chịu tầm ảnh hưởng lớn
từ Trung Quốc. Nhưng lại được giới quân sự Mỹ đặc biệt quan tâm và công
khai hợp tác quân sự cũng như đẩy mạnh hơn các gói hỗ trợ lớn hàng
triệu USD cho quân đội Campuchia, mặc dù bị Nghị sỹ đảng đối lập và tổ
chức giám sát nhân quyền (Human Right Watch) chỉ trích gay gắt.
Điều
đáng chú ý hơn cả là hợp tác quân sự với Lào. Các hoạt động đặc biệt
này đã được khởi động từ tháng 12/2009, sau khi lần đầu tiên kể từ 30
năm qua, sứ quán Mỹ tại Vientiane có tùy viên quân sự. Trong chuyến
thăm Lào của ông Kurt Campbell, trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu
vực Đông Á-Thái Bình Dương hồi tháng 3/2010 đã chính thức khởi động
nhiều chương trình hợp tác quan trọng, trong đó chương trình hợp tác
trong lĩnh vực rà phá bom mìn còn sót lại từ thời chiến tranh, hợp tác
giữa quân đội hai nước, tập trung vào việc đào tạo huấn luyện, giảng
dạy tiếng Anh cho các sỹ quan Lào trong khuôn khổ chương trình giáo dục
và huấn luyện quân sự quốc tế IMET.
Thái Lan là quốc gia đồng
minh ngoài NATO của Mỹ, do đó việc hợp tác quân sự, bán và viện trợ vũ
khí cho quân đội nước này là chuyện thường xuyên. Tuy nhiên, dấu hiệu
gia tăng ảnh hưởng của Mỹ vào Thái Lan gần đây đã được tăng cường thông
qua nhiều hoạt động cụ thể như: Đẩy mạnh các cuộc viếng thăm của các
tàu sân bay và tàu chiến, tổ chức diễn tập Hổ Mang Vàng, CARAT và nhiều
cuộc diễn tập quy mô nhỏ khác với Mục đích không để cho Thái Lan bị
quấn lôi theo chiến lược “sức mạnh mềm” và những mời mọc diễn tập quân
sự chung với Trung Quốc.
Malaysia là quốc gia có mối quan hệ khá
tốt với Trung Quốc, nhưng xét về tầm ảnh hưởng quân sự thì Mỹ vẫn chiếm
vị trí quan trọng và chủ đạo trong hợp tác quân sự với Malaysia. Các
chuyến viếng thăm quân sự cấp cao được diễn ra thường xuyên, các hoạt
động diễn tập quân sự song phương giữa hai quân đội ngày được mở rộng.
Đặc biệt, ngày 06/6/2010, các tàu chiến Mỹ gồm USS Vandegrift (FFG 48),
USCGC Mellon (WHEC 717) và USNS Salvor (T-ARS 52) đã tới Malaysia để
tham gia giai đoạn thứ 4 trong khuôn khổ cuộc Diễn tập Phối hợp Sẵn
sàng Chiến đấu và Huấn Luyện Trên biển (CARAT) lần thứ 16. Chuẩn Đô đốc
Nora Tyson, Tư lệnh Tập đoàn Hậu cần Tây Thái Bình Dương và Lực lượng
Đặc nhiệm 73, cho biết. "Malaysia là một trong những đối tác sáng lập
cuộc diễn tập này, cuộc diễn tập nêu bật tầm quan trọng của mối quan hệ
đặc biệt giữa hai nước chúng ta". Bà Tyson cho biết thêm, mối quan hệ
này đã vượt ra khỏi mối quan tâm về an ninh, nhưng cũng đóng góp vào sự
ổn định tài chính và phát triển kinh tế. Theo chương trình hợp tác
chung, từ năm 2011 Malaysia sẽ được Mỹ mời tham gia vào cuộc diễn tập
quân sự lớn mang tên Hổ Mang Vàng (Cobra Gold-2011) tổ chức tại Thái
Lan.
Đối với Indonesia, Mỹ cũng đang từng bước tăng cường thiết
lập mối quan hệ chặt chẽ về quân sự. Đặc biệt, Ngày 5/7/2010, Bộ Quốc
phòng Mỹ đã thông báo, Mỹ đã bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận buôn bán vũ
khí quân sự tới Indonesia. Ngay sau đó, Indonesia đã đề xuất kế hoạch
mua máy bay chiến đấu F-16 và máy bay vận tải C-130H Hercules, mua tàu
ngầm và một số tàu chiến khác do Mỹ chế tạo. Các nhà ngoại giao tại bộ
ngoại giao Mỹ thông báo quyết định và nói rằng việc bãi bỏ cấm vận sẽ
giúp Indonesia hiện đại hóa quân đội và cải thiện các nỗ lực chống
khủng bố và cứu trợ thiên tai. Bên cạnh đó, thời gian qua Mỹ đã liên
tục tổ chức các cuộc diễn tập quân sự chung với quân đội Indonesia như:
CARAT, Cobra Gold, diễn tập lá chắn Garuda, Flash Iron 10-2 2010, Teak
Iron 2010 và tăng cường nhiều hoạt động phối hợp huấn luyện chống khủng
bố khác.
Điều đáng chú ý hiện nay là những nỗ lực của Mỹ đều
hướng đến mục tiêu nâng cấp các mối quan hệ quốc phòng với các nước
Đông Nam Á. Theo đó, Mỹ sẽ xem xét khôi phục sự hỗ trợ dành cho lực
lượng đặc nhiệm Indonesia – bị đình chỉ từ thập niên 1990 do lực lượng
này bị cáo buộc vi phạm nhân quyền ở Đông Timor.
Hợp tác quân
sự Mỹ - Philippines diễn ra theo hiệp định mang tên Hiệp định về lực
lượng vãng lai (VFA) ký kết năm 1998. Đầu năm 2002, ít nhất 1.300 nhân
viên quân sự Mỹ đã tới Philippines tham gia chống Abu Sayyaf. Vai trò
của Mỹ bị hạn chế ở các chiến dịch không mang tính xung trận bất chấp
Washington đã yêu cầu được tham gia trực tiếp. Từ tháng 8/2006, hợp tác
quân sự song phương được thực hiện dưới tên gọi Chiến dịch tối hậu thư
với mục tiêu loại trừ mối đe dọa của Abu Sayyaf thông qua việc triển
khai đồng loạt 7.000 quân của Chính phủ Philippines. Dù Abu Sayyaf có
suy yếu và mất nhiều thủ lĩnh chóp bu nhưng nhóm này đã kháng cự mãnh
liệt thông qua hàng loạt vụ bắt cóc và đánh bom khủng bố kể từ 3 tháng
cuối năm 2009.
Đối với Mỹ, sự hiện diện quân sự tại các quốc
gia Đông Nam Á không những có tác dụng về mặt quân sự, mà còn có ý
nghĩa về mặt chính trị, tình báo và tuyên truyền văn hóa, bởi nếu không
có nó, Mỹ không thể "nhòm ngó" và kịp thời can thiệp vào những vấn đề
có lợi cho Mỹ trong phạm vi toàn cầu, mà trước mắt là để ngăn chặn và
khống chế Trung Quốc đang ngày càng gia tăng ảnh hưởng trong khu vực
này.
Theo Vitinfo.
|