Một thể chế mới, một cơ quan mới, nhiều quy định chặt chẽ hơn và cũng không ít những mặc cả chính trị.
Phải sửa đổi điều này, sửa
đổi điều khác, thậm chỉ sửa đổi cả sửa
đổi. Các nhà thương thuyết và trợ lý của họ
dường như đang ngập trong giấy tờ.
Phiên họp marathon kéo dài từ 5h39’
sáng ngày 25/06 đầy những mặc cả và toan tính mù
mờ đã cho ra đời một văn bản được coi là bộ
luật quan trọng nhất về tài chính của nước Mỹ
kể từ cuộc Đại suy thoái, cho dù những người
phản đối có chê bai đó chỉ là bộ luật làm cho
xong chuyện.
Ngày 30/06, Hạ viên phê chuẩn dự
luật với tên gọi Đạo luật Cải cách phố Wall và
Bảo vệ người tiêu dùng (còn gọi là Đạo luật
Dodd-Frank, đặt theo tên hai kiến trúc sư chính là
các Thượng nghị sỹ Chris Dodd và Barney Frank).
Nửa tháng sau, nó vượt qua cuộc
bỏ phiếu tại Thượng viện với 60 phiếu thuận
và 39 phiếu trống. Đây là thắng lợi thứ hai của
Tổng thống Barack Obama sau đạo luật cải cách y tế.
Cần phải có thêm một cặp kính
màu hồng mới đồng ý với lời quả quyết của
TT Obama rằng đạo luật mới sẽ đảm bảo không còn
có chuyện giải cứu ngân hàng nữa.
Hơn nữa, có những thiếu sót đáng
chú ý. Các tác giả của đạo luật này lờ đi
những câu hỏi lớn như vị thế trong tương lai của
Fannie Mae và Freddie Mac. Điều này khiến phe Cộng hòa
thất vọng vì họ xem hai cơ quan này đã góp phần
gây nên khủng hoảng tài chính.
Đạo luật cũng không thật sự tổ
chức lại được các cơ quan giám sát liên bang. Lý
do của việc này là sức ép chính trị có thể
hủy hoại toàn bộ đạo luật.
Tuy vậy, đạo luật vẫn bao phủ
trên một diện rộng để củng cố hệ thống tài
chính thêm vững mạnh.
Một cơ quan bảo vệ tài chính
người tiêu dùng mới được ra đời. Nó cho phép
các cơ quan giám sát giải thể không chỉ ngân hàng
mà toàn bộ các tập đoàn tài chính đang sụp đổ,
buộc các đối thủ cạnh tranh còn sót lại thay vì
người nộp thuế gánh chịu nhiều hơn phần chi phí
xử lý hậu quả.
Những tổ chức “chứng khoán
hóa” các khoản vay sẽ phải giữ lại nhiều rủi ro
hơn. Cái gọi là quy tắc Volcker sẽ hạn chế giao
dịch tự doanh và đầu tư vào các quỹ đầu cơ và
quỹ vốn cổ phần của ngân hàng. Thị trường công
cụ phái sinh sẽ không còn được để mặc cho tự
hoạt động nữa.
Còn tùy gió thổi hướng nào
Đạo luật này là một phần của
bước chuyển mang tính toàn cầu từ sau cuộc khủng
hoảng tài chính năm 2008, theo đó chính phủ sẽ can
dự sâu hơn vào ngành tài chính.
Quá trình phi luật lệ hóa ở Mỹ
được bắt đầu từ cuối những năm 70, tăng tốc
vào hai thập niên 80 và 90 với đỉnh cao là một
đạo luật cho phép thị trường hợp đồng hoán
đổi đang phát triển rất nhanh gần như không chịu
điều tiết và bãi bỏ Đạo luật Glass-Steagall 1933
chia tách ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại.
Quá trình tái điều tiết doanh
nghiệp Mỹ bắt đầu với Đạo luật Sarbanes-Oxley
năm 2002 được thiết kế để thắt chặt quản trị
doanh nghiệp sau bong bóng dotcom và vụ phá sản của
Enron.
Nhưng với ngành tài chính, tâm lý
phi luật lệ hóa tiếp tục cho đến tận khủng
hoảng 2007-08.
Đạo luật Dodd-Frank đầy rẫy những
thỏa hiệp bừa bãi. Quy tắc Volcker bị nới lỏng
để cho phép ngân hàng đầu tư tối đa 3% vốn cấp
1 vào quỹ đầu cơ và quỹ vốn cổ phần, tương
đương 3-4 tỷ đôla với các ngân hàng lớn nhất.
JPMorgan Chase có thể giữ lại quỹ
đầu cơ Highbride khổng lồ của mình, vì họ chỉ
đầu tư bằng tiền của khách hàng. Morgan Stanley
phải tách bộ phận tự doanh chỉ đóng góp chưa
tới 2% doanh thu của toàn tập đoàn ra. Goldman Sachs sẽ
là người chịu tổn thất nặng nề nhất: 10% doanh
thu của họ đến từ tự doanh.
Việc có cấm giao dịch tự doanh hay
không còn phải đợi một hội đồng các cơ quan
giám sát do Bộ Tài chính đứng đầu nghiên cứu
và phê chuẩn. Các công ty sẽ có ít nhất 7 năm để
thanh lý tài sản.
Thỏa hiệp về bộ phận hợp đồng
hoán đổi còn tùy tiện hơn: đó là một thỏa
thuận vô lý để TNS Blanche Lincoln giữ thể diện,
ông là tác giả của đề xuất đòi tách bộ phận
này khỏi ngân hàng.
Ngân hàng có thể tiếp tục thực
hiện các hợp đồng hoán đổi lãi suất, ngoại
hối và tín dụng chất lượng cao; các hợp đồng
hoán đổi được cho là rủi ro hơn như hoán đổi
hàng hóa, cổ phiếu và tín dụng hạng đầu cơ
phải được tách ra và chuyển vào một công ty con
với chi phí vốn cao hơn.
Hợp đồng hoán đổi lãi suất
có thể phù hợp với ngân hàng hơn là hoán đổi
hàng hóa, nhưng ý nghĩ cho rằng nó vốn đã an
toàn hơn thì thật đáng cười: các hợp đồng
hoán đổi lãi suất được xây dựng tồi đã gây
ra không biết bao nhiêu thua lỗ cho ngân hàng, doanh
nghiệp và chính quyền địa phương trong những năm
qua.
Nhưng vì hợp đồng hoán đổi lãi
suất và ngoại tệ đóng vai trò chủ đạo trên thị
trường, các ngân hàng Mỹ sẽ chỉ phải chuyển chưa
tới 10% trong số 218 tỷ đôla tổng giá trị (danh
nghĩa) các chứng khoán phái sinh mình đang nắm giữ.
Những bàn tán về cuộc di cư của nghiệp vụ phái
sinh tới London đã lui dần.
Dù những sửa đổi của Volcker và
Lincoln chiếm gần hết những tít báo gần đây thì
điều cốt lõi trong đạo luật này lại nằm ở
nơi khác.
Đó là cơ quan bảo vệ tiêu dùng
với quyền lực rộng lớn có thể soạn thảo các
quy tắc và cấm các sản phẩm tài chính.
Đó là cơ chế giải quyết nới
rộng quyền lực của các cơ quan giám sát để
buộc cả chủ nợ và cổ đông đều phải chịu thua
lỗ và yêu cầu các tập đoàn tài chính khỏe
mạnh phải chịu chi phí giải quyết hậu quả nếu
đối thủ sụp đổ.
Đó là yêu cầu các chứng khoán
phái sinh “tiêu chuẩn” phải được giao dịch qua
trung tâm lưu ký và sở giao dịch, các hợp đồng
được xây dựng tùy chọn sẽ phải chịu chi phí vốn
cao hơn.
Và đó là yêu cầu quỹ đầu cơ
và công ty vốn cổ phần quản lý từ 150 triệu
đôla trở lên đăng ký với Ủy ban chứng khoán (SEC)
và cung cấp thông tin về danh mục cũng như các giao
dịch của họ.
Những quy định ấy được ca tụng
cũng như lên án với mức độ như nhau.
Một số người coi đó là một
bước tiến lớn trong bối cảnh vẫn chưa cơ chế
điều tiết nào đối với các tổ chức tài
chính phi ngân hàng như hiện nay. Số khác lại lo
ngại rằng nó có thể tạo ra thêm nhiều vụ cứu
trợ khác.
Các cơ quan giám sát ngân hàng từ
lâu đã sao lãng bảo vệ người tiêu dùng. Nhưng một
số người lo cơ quan mới này sẽ lại là một tổ
chức hành chính quan liêu nữa.
Đưa chứng khoán phái sinh vào sở
giao dịch là điều nên làm, nhưng quá nhiều hạn
chế có thể ảnh hưởng tới tính thanh khoản.
Theo CafeF.
|