Quốc hội Mỹ đã thông qua một đạo luật
làm thay đổi bộ mặt ngành tài chính, nhưng mới “về chủ
trương”, quy định cụ thể ra sao còn phụ thuộc các cơ quan giám
sát.
Quốc hội mới quyết “về chủ
trương”
Dù không vui vẻ gì nhưng giới ngân
hàng cũng biết họ có thể đã phải hứng chịu
những điều còn tồi tệ hơn. Ít ra thì cũng không
phải quay lại Đạo luật Glass-Steagall, không có chuyện
buộc phải chia tách.
Đạo luật Dodd-Frank sẽ lấy mất
một phần lợi nhuận ngân hàng do giảm phí, tăng
chi phí giám sát, làm chậm lại các giao dịch vốn,
… Các nhà phân tích kỳ vọng rằng từ nay đến
năm 2013 chúng sẽ làm các ngân hàng hụt mất 5% đến
20% lợi nhuận.
Tác động tới các ngân hàng cấp
vùng là nhỏ nhất, dù có như thế cũng là đủ
để buộc một số ngân hàng phải sáp nhật, qua
đó làm giảm số tổ chức cho vay.
Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
là nghiệp vụ phái sinh, khu vực do một nhóm các
ngân hàng toàn cầu thống trị.
Kinner Lakhani từ Citigroup cho rằng tỷ
lệ lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE) của họ
đối với nghiệp vụ hàng năm mang lại tới 100 tỷ
đôla doanh thu này có thể giảm từ 25% xuống 15%.
Như vậy, các ngân hàng thuộc top 50
của Mỹ khó có thể duy trì được tỷ lệ ROE trung
bình 16% như giai đoạn 1997-2006.
Tuy vậy, cũng có những yếu tố
làm giảm tác động của những điều trên. Ngân
hàng có thể đẩy chi phí về phía người tiêu
dùng bằng cách tăng phí và chênh lệch tín dụng
cho các khoản vay.
Điều đó đã đang xảy ra rồi:
thực tế họ vẫn giữ lại một phần lợi ích
từ việc FED can thiệp hạ lãi suất cho vay thế
chấp mua nhà bằng cách mua lại trái phiếu bảo đảm
bằng các khoản vay thế chấp mua nhà (MBS).
Trên thị trường phái sinh, tiêu
chuẩn hóa cao hơn có thể khiến khối lượng giao
dịch lớn hơn qua đó khắc phục được việc lợi
nhuận biên giảm.
Hơn nữa, chi phí vốn cũng giảm do
các hợp đồng được lưu ký tập trung, giải phóng
một phần dự trữ cần cho các giao dịch phi tập
trung. Theo Betsy Graseck từ Morgan Stanley, chỉ riêng Bank of
America có thể hưởng lợi tới gần 5 tỷ đôla.
Khó mà dự đoán được tác động
chính xác, ít nhất là vì đạo luật mới trao
nhiều quyền cho các cơ quan giám sát. Phần lớn
đạo luật này chỉ như một khuôn mẫu để các cơ
quan giám sát tiếp tục hoàn thiện.
Thời gian hoàn thiện có thể lên
tới 2 năm. Họ đã được yêu cầu tiến hành 150
nghiên cứu và viết 350 quy tắc chi tiết tương đương
150-200.000 trang giấy.
Ngân hàng có thể hy vọng rằng các
cơ quan giám sát sẽ đồng cảm hơn với lập luận
rằng quy định ngặt nghèo có thể đe dọa tính
cạnh tranh và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
“Nói thẳng nhé, “làm việc”
với họ nhẹ gánh hơn nhiều so với Quốc hội,”
một quan chức tại Phố Wall nói.
Ví dụ như điều khoản điều chỉnh
“interchange fee” (tạm dịch, lệ phí trao đổi) mà
thương nhân phải trả cho ngân hàng trong các giao dịch
với thẻ ghi nợ. Hạ 50% phí này sẽ làm giảm 2-3,4%
thu nhập trước thuế của các tổ chức phát hành
thẻ.
Nhưng tác động thực tế sẽ phụ
thuộc vào cơ quan thực hiện điều tiết, tức FED,
nghĩ thế nào là “hợp lý và cân xứng” (như
đạo luật viết).
Các cơ quan giám sát cũng sẽ có
nhiệm vụ định nghĩa thế nào là giao dịch tự
doanh (khác với tự bảo hiểm và tạo lập thị
trường), điều mà nhiều người cho là không thể.
Các nhà làm luật cũng để cho cơ
quan điều tiết định nghĩa thế nào là “tài sản
rủi ro cao”. Một vấn đề đau đầu nữa là phân
loại chứng khoán phái sinh tiêu chuẩn và tùy biến
ra sao.
Điều khoản làm các công ty trên
thị trường vốn lo ngại nhất là điều khoản cấm
ngân hàng đóng gói trái phiếu bảo đảm bằng tài
sản từ bất kỳ một giao dịch liên quan nào gây
“xung đột lợi ích rõ ràng”.
Điều khoản này chỉ được đưa
vào sau khi SEC khởi kiện Goldman với tội danh lừa
đảo. Định nghĩa cho cái gọi là “xung đột lợi
ích rõ ràng” này cũng rất quan trọng để xác
định phạm vi hoạt động của các nhà tạo lập thị
trường.
Trên hết, đạo luật Dodd-Frank giao
cho các cơ quan giám sát một chức năng mới là
nhận diện và giải quyết các nguy cơ đối với
sự ổn định tài chính, đặc biệt là bong bóng
tài sản.
Một hội động giám sát rủi ro
hệ thống được thành lập bao gồm Bộ Tài
chính, các cơ quan giám sát liên bang và một thành
viên độc lập.
Chín người mười ý, nhưng ai
cũng tính lợi cho mình
Các tác giả của đạo luật này
không chỉ dành việc quyết định phần lớn các
luật lệ mới cho các cơ quan giám sát nội địa
mà đa phần các vấn đề quan trọng nhất như vốn
ngân hàng thậm chí còn bị đẩy đi xa hơn tới tay
các nhà làm luật quốc tế.
Nếu khó cải cách được ở Mỹ
thì thúc đẩy tiến trình này qua hàng tá quốc
gia là điều gần như không thể.
Trông một cuộc họp gần đây ở
Vienna của Viện Tài chính quốc tế, một tổ chức
vận động hành lang của ngành này, lãnh đạo của
các ngân hàng hàng đầu thế giới đều cho rằng
càng đến gần giờ phút quyết định, càng khó
xây dựng một luật chơi cho toàn cầu.
Cuộc họp gần đây nhất của G20 ra
một thông cáo như thường lệ về sự phối hợp
toàn cầu. Tuy vậy, vẫn có những sự bất đồng
công khai.
Ý tưởng về một sắc thuế toàn
cầu đánh vào ngân hàng mà Mỹ và một số nước
Châu Âu thích thú đã bị loại bỏ.
Không mấy bất ngờ là các quốc
gia không phải chịu khủng hoảng như Australia, Canada và
phần lớn các nước mới nổi cho rằng ý tưởng
này vừa điên rồ vừa không cần thiết.
Bất đồng về quy tắc toàn cầu
mới về vốn và thanh khoản cũng đang tăng lên. Đầu
tiên, sự chia rẽ giữa các cơ quan định ra tiêu chuẩn
quá lớn.
Các nhà làm luật Mỹ bắn tín
hiệu họ sẽ mở rộng việc định giá theo giá trị
thị trường (mark-to-market) đối với cả danh mục cho
vay cũng như chứng khoán, trong khi các nhà làm luật
tại các quốc gia khác lại đi theo hướng ngược
lại.
Với chuyện sổ sách, quan trọng là
phải xem vốn là gì, vì thế sẽ thật lố bịch
nếu cứu cố đưa ra một tiêu chuẩn chung về vốn
mà lại không có tiêu chuẩn chung về kế toán.
Cựu Phó Chủ tịch Citigroup và hiện
là Phó Chủ tịch IIF, ông Bill Rhodes, nói sự đồng
thuận quan trọng tới mức mà để mọi việc tiến
triển tốt, giới chính trị có thể tạo mọi sức
ép đối với các cơ quan định ra tiêu chuẩn, cho dù
có làm giảm tính độc lập của các cơ quan này đi
chăng nữa.
“Đây là vấn đề của cả G20. G20
sẽ phải nói, “Này, các ông, thống nhất đi chứ.””
Bề ngoài thì dùng đủ phép tu từ
để nói về “thống nhất”, nhưng nước nào
cũng vận động hành lang cho mình.
Mỹ mạnh miệng nhưng lại muốn để
ngân hàng tính cả phí tương lai có liên quan tới cho
vay thế chấp là vốn. Nước lớn nào ở Châu Âu
cũng muốn mình được “miễn” một số vấn đề
nào đó.
Nếu đứng tách biệt, nhiều điều
họ đang vận động cũng hợp lý. Nhưng nếu kết
hợp lại thì đó sẽ là thảm họa.
Trừ Mỹ, nền kinh tế các nước
khác vay tiền từ ngân hàng nhiều hơn so với từ
thị trường vốn. Vì thế mà họ cũng lo ngại tác
động của các quy định chặt chẽ hơn đối với
tăng trưởng kinh tế.
Giới ngân hàng lại đổ thêm dầu
vào lửa: một nghiên cứu của IIF kết luận rằng
các tiêu chuẩn đề xuất trong Basel 3 từ nay đến
năm 2015 có thể lấy mất tổng cộng 3% GDP của Mỹ,
khu vực eurozone và Nhật Bản (nghiên cứu này lờ đi
lợi ích mà một thể chế ổn định hơn mang lại
nhờ hạn chế khủng hoảng xảy ra).
Các cơ quan giám sát toàn cầu cho
rằng họ vẫn được ủng hộ về mặt chính trị
để hành động quyết liệt hơn và quy tắc mới
sẽ được thực hiện theo từng giai đoạn trước
cuối năm 2012 để hạn chế tác động xấu tới
kinh tế.
Mức độ nghiêm trọng của những
tác động xấu ấy đang là chủ đề tranh luận
nóng bỏng. Trái ngược với IIF, các cơ quan giám
sát Thụy Sỹ cho rằng hai ngân hàng lớn của nước
này có tăng mạnh vốn thì cũng ít có ảnh hưởng
tới nền kinh tế.
Nhóm các cơ quan giám sát Basel đang
tiến hành nghiên cứu của riêng mình và có khả
năng sẽ đi tới kết luận tác động xấu từ các
đề xuất của họ ít hơn nhiều so với ước tính
của IIF, có lẽ chỉ 0,5% GDP (không tính tới tác động
tốt khi có ít khủng hoảng hơn).
Có lẽ điều duy nhất nhóm này
buộc phải thừa nhận là quy tắc mới sẽ buộc
ngân hàng phải nhanh chóng cải thiện nguồn vốn dài
hạn, một điều gần như không thể nếu tính tới
những náo động gần đây trên thị trường chứng
khoán nợ.
Các cơ quan giám sát quốc gia liệu
có đúng khi đặt quá nhiều niềm tin vào các định
chế toàn cầu? Thực tế họ vẫn bị xem thường.
Khả năng là họ sẽ thỏa hiệp về
tiêu chuẩn kế toán và cứng rắn đối với các
quy tắc về vốn và thanh khoản. An toàn vốn của
các ngân hàng sẽ tiếp tục được củng cố sau khi
đã được cải thiện hơn nhiều so với trước.
Nhưng điều đáng lo ngại là “vốn
chính trị” đã dùng để thực hiện những nhiệm
vụ khá cơ bản như vậy nên các ưu tiên khác sẽ bị
gạt sang một bên, đặc biệt là với các ngân hàng
đổ vỡ.
Hầu như nước nào cũng đang cố
gắng hết sức để trao công cụ pháp lý cho các cơ
quan giám sát để họ có thể buộc cả chủ nợ
phải gánh chịu thua lỗ.
Nhưng căn cứu vào tình hình tài
chính thực tế trên bảng cân đối kế toàn các
ngân hàng thì mình công cụ pháp lý không thôi có
thể là không đủ nếu nỗi lo thua lỗ có thể làm
phần lớn đối tác và chủ nợ cân nhắc việc
tháo chạy.
Điều cần thiết là phải phân
tách rõ ràng, chủ nợ nào sẽ phải cùng hứng
chịu thua lỗ khi ngân hàng sụp đổ và chủ nợ nào
sẽ được bảo vệ.
Chính điều này là đặt ra yêu
cầu phân loại lại chủ nợ, tức là tạo ra các
loại chứng khoán nợ mới sẽ hoán đổi thành cổ
phiếu trong các trường hợp nhất định.
Dù Basel có tiếp tục cân nhắc tới
các biện pháp như thế, họ vẫn tập trung chủ yếu
vào những câu hỏi tưởng chừng như đã rõ ràng
như củng cố an toàn vốn tại ngân hàng. Vẫn chưa
biết liệu một tiến trình đa phương có thật sự
mang lại điều gì hay không.
Theo CafeF.
|