|
Bài
viết của TS. Hồ Công Hưởng, Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Hoàng
Gia, nguyên Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BSC).
Khoảng
tháng 6/1999, khi đang là Trưởng phòng Kế hoạch phát triển, Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) ngày nay, tôi được chị Phùng Thị
Vân Anh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị và anh Trịnh Ngọc Hồ, Tổng giám đốc
BIDV, gọi lên trao đổi về khả năng tham gia ngay từ đầu, về vai trò của
BIDV trên thị trường chứng khoán Việt Nam, và kế hoạch điều động tôi về
ban trù bị thành lập công ty chứng khoán.
Dù
lượng kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà tôi thu
thập được qua chặng đường nghiên cứu trước đó không phải là ít, nhưng
quả thực, nhiệm vụ mà ban lãnh đạo BIDV giao cho tôi và ban trù bị hết
sức nặng nề và khó khăn: (1) Xây dựng đề án hoạt động, quy trình hoạt
động cho ngân hàng chỉ định thanh toán; (2) Xây dựng đề án hoạt động,
quy trình nghiệp vụ cho tất cả các dịch vụ của Công ty Chứng khoán BSC;
(3) Tư vấn đăng ký, định giá và niêm yết trái phiếu BIDV trên trị
trường chứng khoán Việt Nam.
Những khó khăn thuở ban đầu
Khó
khăn thứ nhất là phần lớn các tài liệu về chứng khoán viết bằng tiếng
Anh, với đầy rẫy các thuật ngữ mới, lạ (long, short, position...) lẫn
từ ngữ ẩn dụ (bull, bear, pig, chicken, whipsaw, haircut...). Qua mười
năm cọ xát với thị trường, tiếng Việt trong lĩnh vực chứng khoán đã có
một bước tiến rõ rệt, nhưng đến nay, vẫn còn rất nhiều thuật ngữ mà
tiếng Việt chưa lột tả hết được!
Thứ
hai là quy trình chỉ có thể xây dựng và khái quát từ các tình huống,
các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động thực tiễn. Vì vậy, xây dựng quy
trình trong điều kiện chưa biết hệ thống giao dịch và thanh toán của
thị trường sẽ hoạt động ra sao, dựa trên mô hình nào... quả thực không
đơn giản chút nào!
Khó
khăn nữa là tình trạng thiếu kinh nghiệm thực tế, dù chỉ là một cơ hội
thực tập tại một công ty chứng khoán. Nhu cầu tưởng như quá đơn giản ấy
mười năm trước đây lại là bất khả thi vì không có môi trường thực tế.
May
mắn thay, vào đầu năm 2000, lúc đang là Giám đốc Công ty Chứng khoán
BSC tôi đã được nhận một trong ba suất nghiên cứu trong thời gian một
tháng tại Công ty Chứng khoán Phoenix (Hồng Kông) cùng với anh Đặng
Giao, nguyên Giám đốc Công ty Chứng khoán Thăng Long (đã mất) và anh
Phạm Ngọc Long, nguyên Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Công
thương Việt Nam.
Nhờ
thâm nhập thực tế tại Phoenix, với tôi, những mảng kiến thức lý thuyết
về chứng khoán và thị trường chứng khoán tưởng chừng rời rạc trước đây
nay đã được chắp nối và liên kết với nhau một cách chặt chẽ, sinh động.
Từ Hồng Kông trở về, tôi cùng các cộng sự trong ban trù bị bắt tay vào
hoàn thiện các quy trình liên quan do ban lãnh đạo BIDV giao phó.
Tôi
vẫn còn nhớ rõ phiên giao dịch đầu tiên diễn ra vào ngày 28/7/2000, thị
trường cổ phiếu đã là tiêu điểm thu hút sự chú ý của đông đảo công
chúng đầu tư.
Mặc
dù chỉ có một số lượng nhỏ cổ phiếu của Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu
viễn thông (SAM) và cổ phiếu của Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE),
nhưng tại các sàn giao dịch của các công ty chứng khoán, lệnh đặt mua
cổ phiếu REE và SAM vẫn liên tục được nhập vào hệ thống giao dịch.
Với
tổng khối lượng đặt mua cho hai loại cổ phiếu này là 355.000 cổ phiếu
trong khi số lượng chào bán chỉ giới hạn ở con số 4.200 cổ phiếu, phiên
giao dịch đầu tiên đã diễn ra suôn sẻ nhưng kết thúc với tổng giá trị
giao dịch quá khiêm tốn: 70,4 triệu đồng.
Một
câu chuyện khác vẫn khiến tôi nhớ lại như một kỷ niệm những năm đầu thị
trường chứng khoán. Đó là năm 2002, BSC lấy được hợp đồng tư vấn tài
chính và tư vấn niêm yết cho Công ty cổ phần Hợp tác kinh tế và Xuất
nhập khẩu SAVIMEX (SAV).
Trong
quá trình tư vấn, Hội đồng Quản trị SAV có nhã ý nhượng lại cho BSC 10
tỉ đồng cổ phiếu SAV với giá 22.000 đồng/cổ phiếu trong lúc giá SAV ở
thị trường OTC đã là 23.500-24.000 đồng/cổ phiếu. Với cơ chế cổ phần
hóa ở thời điểm đó, việc chuyển nhượng này hoàn toàn đúng luật. Ba
tháng sau, giá SAV tăng khá nhanh, có thời điểm lên tới 27.500 đồng/cổ
phiếu.
Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân, thị trường xoay chiều đột ngột, có lúc giá
cổ phiếu chỉ còn 17.500 đồng/cổ phiếu. Sự việc chẳng có gì đáng nói nếu
không có chuyện một vị lãnh đạo của BIDV đã yêu cầu ban lãnh đạo truy
cứu trách nhiệm, làm rõ “động cơ đầu tư”, kể cả phải bồi thường đối với
những cán bộ đã ra quyết định đầu tư vào SAV. Cũng may, sau hơn một năm
chờ đợi với chiến lược mua và nắm giữ (buy and hold), thị trường đã hồi
phục.
Lần này,
để tránh “hậu họa”, khi cổ phiếu đã chớm vượt trên giá vốn, tôi đã chủ
động xin ý kiến của vị lãnh đạo ấy, trong vài phiên tới, có nên bán ra
hay là tiếp tục nắm giữ trong bối cảnh thị trường đang có đà tăng
trưởng mạnh. Sau một lúc suy nghĩ, vị lãnh đạo chỉ đạo bán ra, không
nên nắm giữ SAV nữa. Rút kinh nghiệm, chúng tôi bán ra không một chút
chần chừ. Kết quả, thương vụ ấy không những không lỗ mà còn mang về cho
BSC khoản lợi nhuận gần 4 tỉ đồng.
Cũng
thật trớ trêu, sau khi chúng tôi đã bán, cổ phiếu SAV còn tăng giá một
thời gian khá dài. Vì vậy, trong một hội nghị tổng kết của hệ thống
BIDV, cũng vị lãnh đạo ấy lại phê bình BSC đã bán quá sớm nên lợi nhuận
không cao! Vậy là trong thương vụ đầu tư vào SAV, chúng tôi lãnh đủ búa
rìu: mua cũng bị kiểm điểm, bán cũng bị phê bình!
Kể
ra câu chuyện này, tôi chỉ muốn nêu lên một băn khoăn trăn trở trong
suốt 22 năm làm việc trong hệ thống ngân hàng: phải chăng chính cái ấu
trĩ, xơ cứng trong quản trị điều hành đã dẫn tới thực trạng mặc dù có
nhiều lợi thế về vốn, mạng lưới, quan hệ với các bộ, ngành, các tổng
công ty... nhưng các công ty chứng khoán của các ngân hàng thương mại
nhà nước đều có sức cạnh tranh kém, nếu không muốn nói là kém xa các
công ty cổ phần? Đây là điều đáng để các nhà hoạch định chính sách suy
ngẫm!
Những mối đe dọa và giải pháp đề xuất
Cho
dù trải qua những thời kỳ thăng trầm, mười năm qua thị trường chứng
khoán Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ về quy mô cũng như
chất lượng. Từ chỗ sử dụng công nghệ giao dịch bán tự động với hình
thức đại diện giao dịch tại sàn, hiện nay cả hai sở đều thực hiện giao
dịch điện tử hóa hoàn toàn dưới hình thức kết nối và giao dịch trực
tuyến.
Về quy
mô, từ vài công ty niêm yết trong những ngày đầu tiên, đến nay, thị
trường chứng khoán Việt Nam đã có 576 công ty niêm yết, bốn chứng chỉ
quỹ, 612 trái phiếu, 105 công ty chứng khoán, 46 công ty quản lý quỹ,
tám ngân hàng lưu ký, gần 900.000 tài khoản đầu tư; trong đó có trên
14.000 nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tích có được trong mười năm qua, khi thị
trường đã có bước phát triển mới, nhiều vấn đề cũng đã và đang phát
sinh có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tính minh bạch và sự ổn định của
thị trường.
Đó
là việc nhiều công ty tranh thủ niêm yết trong bối cảnh chất lượng kiểm
soát báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán không được bảo đảm;
nguồn cung chứng khoán tăng quá nhanh so với số lượng các nhà đầu tư;
tình trạng làm giá, thao túng giá với các công nghệ “bơm, hút, thả, xả,
đẩy”; tình trạng tùy tiện trong công bố thông tin, công bố thông tin
chậm, thiếu chính xác, không trung thực... đang làm xói mòn nghiêm
trọng lòng tin của nhà đầu tư.
Là người đã gắn bó liên tục với thị trường suốt mười năm qua, tôi có mấy mong muốn cho thị trường chứng khoán Việt Nam:
Một,
thị trường cần một cơ quan quản lý độc lập, trực thuộc Chính phủ, có
đầy đủ các thẩm quyền, điều kiện và khả năng ban hành các văn bản pháp
quy nhằm xử lý nhanh, nhạy các vấn đề phức tạp nảy sinh thay vì mô hình
một ủy ban (cấp nhà nước) lại trực thuộc bộ (Bộ Tài chính), phải qua
quá nhiều tầng, nấc như hiện nay. Đương nhiên, nâng quyền hạn của ủy
ban chứng khoán phải gắn liền với trách nhiệm trong việc quản lý ngành,
quản lý thị trường.
Hai,
đã đến lúc phải tổ chức lại các sở giao dịch chứng khoán theo mô hình
của các tổ chức tự quản (self-regulation) với thành viên là các công ty
chứng khoán, theo thông lệ của nhiều nước. Trong mô hình này, các tổ
chức tự quản không chỉ được phép xác định các quy tắc, các quy định
điều chỉnh các hành vi giao dịch trên thị trường chứng khoán, xác định
tư cách, tiêu chuẩn thành viên của sở giao dịch mà còn xác định hàng
loạt các biện pháp kỹ thuật giám sát thị trường, các chế tài bắt buộc
phải tuân thủ các nguyên tắc đã đề ra nhằm bảo đảm một thị trường công
bằng và trật tự.
Ba,
thị trường chứng khoán Việt Nam cần một hệ thống công nghệ giao dịch
hiện đại, đủ sức theo dõi, phát hiện và xử lý các hành vi thao túng,
lũng đoạn thị trường theo kiểu “một tay che cả bầu trời”, gây phẫn nộ
và bức xúc dư luận trong thời gian gần đây.
Bốn,
thị trường cũng cần một bộ luật chứng khoán mới, các chế tài mới đầy đủ
hơn, xử lý nghiêm minh hơn, có tác động răn đe hơn các hành vi vi phạm
nghĩa vụ công bố thông tin, giao dịch nội gián, thao túng, lũng đoạn
thị trường.
Năm,
cần hiện đại hóa các phương tiện công bố thông tin và đa dạng hóa
phương pháp công bố thông tin trên các sở giao dịch chứng khoán. Song
song với việc hoàn thiện hệ thống cung cấp thông tin qua mạng, cần khẩn
trương xây dựng mạng lưới truyền thông (broadcasting network), mạng tin
nhắn RSS để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trực tiếp từ tổ chức
niêm yết đến các công ty chứng khoán thành viên và hệ thống mạng điện
thoại trả lời tự động các thông tin do nhà đầu tư yêu cầu.
Sáu,
để kiểm soát rủi ro, cần nâng cao tiêu chuẩn niêm yết trên cả hai sở
giao dịch chứng khoán; theo đó, đối với Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM
(HOSE), một công ty muốn niêm yết trên sàn này phải có quá trình hoạt
động năm năm, số vốn thực góp phải đạt 200 tỉ đồng, chỉ số ROE bình
quân ba năm gần nhất tối thiểu 15%, có tối thiểu 1.000 cổ đông.
Tương
tự, tiêu chuẩn niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) lần
lượt là ba năm, 100 tỉ, 10%, 500. Các cổ phiếu đã niêm yết tại HOSE
nhưng không đạt tiêu chuẩn niêm yết mới sẽ chuyển sang niêm yết tại
HNX, các cổ phiếu không đạt tiêu chuẩn tại HNX sẽ chuyển sang niêm yết
tại thị trường UPCoM.
Bảy,
những thông tin để xác định các điều kiện cung cầu tiềm tàng của thị
trường phải đầy đủ và sẵn có. Tất cả các thành viên tham gia giao dịch
đều có cơ hội tiếp cận thị trường như nhau; nghĩa là cùng một thời
điểm, không cho phép bất cứ một cá nhân nào có đặc quyền thực hiện lệnh
mua hoặc lệnh bán nhanh hơn các nhà đầu tư khác do nắm tin nhanh hơn.
Vì
vậy, việc không cung cấp thông tin về giao dịch của nhà đầu tư nước
ngoài (trong phiên giao dịch) tại HOSE hoặc việc thu phí cung cấp thông
tin cho gói tin đầy đủ đối với các công ty chứng khoán thành viên (đã
đóng phí thành viên, phí giao dịch) là những bất hợp lý cần phải chấm
dứt!
Theo TS. Hồ Công Hưởng (TBKTSG)
VnEconomy.
|